LỜI MỞ ĐẦU
Lời giới thiệu của Ban Hài Hước / Biên Tập: Để kính nhớ Giáo sư Nguyễn Minh Nhựt, cựu giáo sư Sử Địa trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký, chúng tôi xin lần lượt đăng lại tập tiểu luận Cao học Sử học của Thầy viết năm 1971 tại Viện Đại Học Sài Gòn.
LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử bang giao giữa Việt Nam và các quốc gia lân bang từ trước đến nay thường được các sử gia đề cập đến nhiều nhất là lịch sử bang giao Việt – Hoa.
Sự kiện này rất dễ hiểu vì từ ngàn xưa, nước ta đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn minh Trung Hoa về mọi mặt: chính trị, luật pháp, văn chương, nghệ thuật, phong tục, v.v… Hơn nữa, vị trí địa lý của nước ta lại ở sát nách một đế quốc rộng lớn, lúc nào cũng sẵn sàng dùng uy lực hoặc võ lực để duy trì hoặc thiết lập hệ thống tôn chủ và thuộc quốc. Do đó, muốn bảo vệ nền độc lập tự chủ của dân tộc, các triều đại Việt Nam từ Đinh, Lê, Lý, Trần đến Lê, Nguyễn đều phải áp dụng một đường lối ngoại giao vô cùng uyển chuyển đối với các thiên triều Bắc phương: đó là chính sách “thần phục bề ngoài nhưng độc lập bề trong” (như lời sử gia Trần Trọng Kim đã nhận định).
Trái lại, lịch sử bang giao giữa Việt Nam và các quốc gia ở phía Tây và phía Nam, cụ thể là Ai Lao (Lào) và Cao Miên (Campuchia), ít được các sử gia chú trọng và biên soạn thành những tác phẩm có hệ thống. Nếu có, thì đó chỉ là những chương, những đoạn ngắn nằm rải rác trong các bộ thông sử hoặc các tác phẩm khảo cứu về lịch sử can thiệp của người Pháp tại Đông Dương mà thôi.
Sự thiếu sót này có thể do nhiều nguyên nhân:
Về tài liệu lịch sử: Người Cao Miên và người Ai Lao không có thói quen ghi chép sử biên niên như người Việt hay người Hoa. Phần lớn sử liệu của họ đều dựa vào các truyền thuyết, huyền thoại hoặc các văn bia, khắc đá rất khó kiểm chứng và xác định niên đại một cách chính xác. Ngay cả bộ sử của Cao Miên do biên tu sau này cũng có nhiều điểm mâu thuẫn và đứt đoạn.
Về phía Việt Nam: Các sử quan triều đình xưa kia khi biên soạn chính sử (như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Đại Nam Thực Lục) thường đứng trên quan điểm “thiên tử” và “vạn bang”, xem các quốc gia lân cận này là những vùng đất “man di” chịu ảnh hưởng giáo hóa của triều đình trung ương. Vì thế, họ chỉ ghi chép những sự kiện nổi bật như các cuộc triều cống, các cuộc hành quân phạt tội hoặc những vụ tranh chấp vương vị có sự can thiệp của quân đội Việt Nam mà ít khi đi sâu vào chi tiết các mối quan hệ ngoại giao, kinh tế hay văn hóa liên tục.
Về bối cảnh chính trị: Từ thế kỷ XVII trở đi, đặc biệt là dưới thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn, mối quan hệ giữa Việt Nam, Cao Miên và Xiêm La (Thái Lan) trở nên vô cùng phức tạp. Cao Miên biến thành một bãi chiến trường, một quốc gia đệm giữa hai thế lực đang lên ở Đông Nam Á là Việt Nam và Xiêm La. Sự tranh chấp ảnh hưởng này kéo dài cho đến khi người Pháp đặt nền bảo hộ lên toàn cõi Đông Dương. Do đó, các tài liệu về giai đoạn này thường mang tính chất cục bộ, thiên lệch tùy theo góc nhìn của từng quốc gia liên hệ.
Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn hiểu rõ tiến trình phát triển và bành trướng lãnh thổ của dân tộc Việt Nam về phía Nam – cuộc hành trình lịch sử mang tên “Nam Tiến” – chúng ta không thể không nghiên cứu một cách thấu đáo lịch sử bang giao giữa Việt Nam và Cao Miên. Chính trên địa bàn của vương quốc này, người Việt đã từng bước khai phá, định cư và cuối cùng sáp nhập toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long vào bản đồ Việt Nam. Và cũng chính từ mối quan hệ phức tạp này đã nảy sinh ra những vấn đề lịch sử, sắc tộc và biên giới mà cho đến ngày nay vẫn còn âm vang và ảnh hưởng đến vận mệnh của cả hai dân tộc.
Chính vì những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Lịch sử bang giao giữa Việt Nam và Cao Miên từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX” làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn Cao học Sử học này.
Mục đích của chúng tôi không ngoài việc cố gắng hệ thống hóa lại các sự kiện lịch sử dựa trên những tài liệu chính sử của Việt Nam (đối chiếu với một số tài liệu của Cao Miên, Xiêm La và các giáo sĩ, thương nhân phương Tây thời bấy giờ đã được dịch thuật), nhằm vạch ra một cái nhìn khách quan, khoa học về đường lối ngoại giao, những biến tiến chính trị và những hệ quả của mối bang giao này trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc sưu tầm và phân tích tài liệu, nhưng vì tài năng và học lực có hạn, lại thêm hoàn cảnh chiến tranh hạn chế việc tiếp cận một số kho lưu trữ, luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót và khuyết điểm. Chúng tôi rất mong nhận được những lời chỉ giáo, phê bình quý báu của các bậc thầy và các bậc đàn anh đi trước để tiểu luận này được hoàn bị hơn.
Sài Gòn, niên khóa 1970 – 1971 Nguyễn Minh Nhựt
TIỂU LUẬN CAO HỌC SỬ HỌC
Đệ trình bởi
NGUYỄN MINH NHỰT
1972
TỔ CHỨC LAO TÙ POULO CONDOR THỜI PHÁP THUỘC 1861 – 1945

Hội Ái Hữu Petrus Trương Vĩnh Ký Úc Châu hân hạnh giới thiệu Tiểu Luận Cao Học Sử Học của Thầy Nguyễn Minh Nhựt, cựu giáo sư Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký Sài gòn, đã quá vãng.
Hội Ái Hữu Petrus Trương Vĩnh Ký Úc Châu xin chân thành cám ơn cô Kim Khánh, phu nhân của Thầy Nguyễn Minh Nhựt, đã cho phép chúng tôi được phổ biến quyển Tiểu Luận này trên Website Petrus Trương Vĩnh Ký Úc Châu. Cám ơn anh Nguyễn Minh Nghĩa (PK 65-72) đã gởi tặng và anh Trần Anh Khôi (PK-LHP 1991-94) đã sao chụp quyển Tiểu Luận này.
CHƯƠNG II: Các điều kiện hình thành của đề lao Poulo Condor
- Tiết I: Đặc tính pháp chế của đề lao Poulo Condor
- Tiết II: Tổ chức các trại I, II, III và các sở chuyên môn
CHƯƠNG III: Sự hình thành của đề lao Poulo Condor
CHƯƠNG IV: Đời sống của tù nhân trong lao tù Poulo Condor
PHỤ BẢN:
- I. Poulo Condor – Hình thể
- II. Poulo Condor – Vị trí các sở chuyên môn
- III. Poulo Condor – Khu vực phát triển
- IV. Poulo Condor – Sơ đồ trại I
- V. Poulo Condor – Sơ đồ các trại giam (xà lim đơn, xà lim đôi – Phòng biệt giam)
- VI. Poulo Condor – Sơ đồ trại II
- VII. Poulo Condor – Sơ đồ trại III
- VIII. Poulo Condor – Danh sách các vị quản đốc quần đảo và đề lao Poulo Condor
PDF File Tiểu luận Cao học Sử – GS Nguyễn Minh Nhựt
Các bài đọc thêm:




















































